Hào quang và bóng tối của nhóm nhạc Rock Aero Smith

Khởi đầu của Aero Smith – nhóm nhạc rock nổi tiếng thế giới  P1

Lịch sử của Aero Smith bắt đầu từ năm 1970 khi ca sĩ Steven Tyler gặp nhạc sĩ guitare Joe Perry, đang làm việc tại một tiệm kem ở Sunapee, New Hampshire. Tyler vốn cũng là một tay trống và  Perry cùng quyết định rủ thêm tay guitare bass Tom Hamilton để thành lập một ban nhạc ba người. Nhóm phát triển thành bộ tứ khi tay guitare thứ hai, Ray Tabano gia nhập nhưng chẳng bao lâu sau đó được thay bằng Brad Whitfort, cựu thành viên của Earth Inc. Vào khoảng cuối năm, ban nhạc được bổ sung thêm tay trống Joey Kramer nên từ đó trở đi Tyler “chuyên trách” vai trò ca sĩ chính của ban nhạc. Và cũng trong khoảng thời gian này, Aero Smith chuyển về “đóng đô” ở Boston.

Sau hai năm chơi cho các câu lạc bộ ở Masachusett và New York, ban nhạc ký được hợp đồng với Columbia Records (1972). Album đầu tay của họ mang tên Aero Smith quyết định lên đường chinh phục khán thính giả trên toàn nước Mĩ bằng vai trò hát đệm cho nhiều nhóm khác nhau như Kinds, Mahavishnu Orchestra, Sha Na Na và Mott the Hoople. Năm 1974 với Get Your Wings – album thứ hai của nhóm và là album đầu tiên được Jack Douglas thực hiện nhờ vào các chuyến lưu diễn thường xuyên, đã gây được chút tiếng vang: 86 tuần góp mặt trên bảng xếp hạng.

Album thứ ba của Aero Smith, Toys In The Attic, phát hành năm 1975 mới thực sự là album đánh dấu bước đột phá của họ vừa trong lĩnh vực thương mại lẫn nghệ thuật. Vào thời gian thu âm album này, ban nhạc đã khổ luyện chơi theo phong cách hard rock với những âm thanh ngọt ngào nhưng không thiếu phần mạnh mẽ nhờ vào những đoạn nhạc viết dựa trân nhạc blues, đơn giản nhưng hết sức dữ dội. Nhiều nhà phê bình trong thời điểm đó đã gán cho phong cách của Aero Smith là punk rock. Điều này cũng dễ hiểu vì đáng lẽ bắt chước thái độ tự phụ là “cái rốn’ của âm nhạc thế giới như Led Zeppelin hoặc đi theo khuynh hướng “sầu lai láng” của Black Sabbath, Aero Smith đã chỉ giữ lại những gì tinh tuý nhất của phong cách heavy metal và loại bỏ không thương tiếc những đoạn riff thừa. Phil Hardy và Dave Laing phát biểu trong Encyclopedia of rock: “Album Toys in the Attic đã chắt lọc một cách hoàn hảo những âm thanh của Aero Smith với một giai điệu mạnh mẽ nhưng linh hoạt diệu kỳ cộng với những âm thanh của hai cây guitare lúc vần vũ lúc cuộn xoáy một cách điệu nghệ quanh giọng ca của Tyler”. Toys in the Attic là phần tinh tuý của một Aero Smith đang tràn đầy nhựa sống và làm cho ban nhạc tách biệt hẳn với những nhóm rocker khác đương thời. Toys in the Attic ngự trị trên các bảng xếp hạng trong gần hai năm và bán được trên 4 triệu bản.

Mùa hè 1975 “Sweet Emotion” đĩa đơn đầu tiên trong Toys in the Attic có mặt trong top 40 và tiếp sau đó album này leo lên hạng 11. Sự thành công này đã dẫn tới việc tái phát hành ca khúc ballad “Dream On” và đến đầu 1976 ca khúc này lọt vào top 10. Cả ban nhạc Aero Smith lẫn album “Get Your Wing” đều được tăng hạng nhờ vào thành công của Toys in the Attic. “Walk this way”, đĩa đơn cuối cùng trong Toys in the Attic được phát hành cùng lúc với album mới trong năm 1976 của nhóm rock. Mặc dù không lọt vào top 10 như “Walk this way”, rock nhanh chóng trở thành album  Bạch Kim với ngôi vị thứ ba. Đầu năm 1977, Aero Smith tạm ngưng công việc trình diễn và chuẩn bị công sức cho album thứ năm của nhóm. Phát hành cuối năm 1977, Draw The Line lại là một album thành công khác được xếp thứ 11  bảng xếp hạng ở Mĩ, nhưng cũng bởi sự đuối sức của ban nhạc này. Nhân chuyến lưu diễn vào năm 1978 ban nhạc còn xuất hiện trong bộ phim Pepper’s Lonely Hearts Club, trình diễn ca khúc “Come Together” sau đó được xếp thứ hạng 23 trên bảng xếp hạng. Live! Bootleg xuất hiện năm 1978 và lại là một thành công hơn nữa của ban nhạc với thứ hạng 13.

Những tháng năm lưu diễn và địa vị thống trị, và nỗi u mê

Những năm tháng lưu diễn thường xuyên đã đưa ban nhạc Aero Smith lên vị trí hàng đầu trong làng nhạc thế giới. Nhưng cũng chính trong thời gian này họ đã chìm sâu vào con đường nghiện ngập ma tuý và giữa các thành viên cũng nảy sinh những mối bất hòa khó hàn gắn. Sức sống của Aero Smith dần dần tàn lụi sau những đam mê chết người này. Năm 1979 Aero Smith thu âm album Night in the ruts và phát hành vào cuối năm. Tuy là một album khá xuất sắc xếp thứ hạng 14 và là album vàng nhưng dẫu sao đây vẫn là một album kém thành công nhất của Aero Smithcho tới ngày nay.

Vào thời gian phát hành album này thì tay guitare Joe Perry đã chia tay với ban nhạc để thành lập ban nhạc riêng của anh: Joe Perry Project. Đầu năm 1980 Brad Whitfort rời Aero Smith và kết hợp với tay guitar Derek St. Holmes, cựu thành viên của nhóm Ted Nugent, lập ra ban nhạc Whitfort – ST. Holmes Band. Cuối năm 1980 sau đó có thêm hai tay guitare mới Jimmy Crespo và Rick Dufay, ban nhạc Aero Smith phát hành album Aero Smith’s Greatest Hits (cho đến nay đã bán được trên 6 triệu bản). Tên tuổi của Aero Smith bắt đầu lu mờ. Album Rock in a Hard Place của đội ngũ mới trong Aero Smith phát hành năm 1982 tuy giành được thứ hàng 32 nhưng so với Night In The Ruts lại là một thất bại về mặt trình diễn.

Nhân ngày Valentine năm 1984, sau một thời kỳ dài “nói xấu nhau” trước công luận giữa Tyler và Perry, Perry và Whitfort đã đến thăm ban nhạc cũ ngay tại hậu trường sau buổi tác phẩm trình diễn của Aero Smith tại Orpheum Theater ở Boston. Và gương vỡ lại lành… Không một hợp đồng ghi âm và không phát hành một album nào, cả ban nhạc cùng nhau thực hiện một chuyến lưu diễn đánh dấu ngày đoàn tụ được mệnh danh là “Back in the Horse”. Ngay những buổi trình diễn đầu tiên trong chuyến lưu diễn, việc Tyler ngã quỵ trên sân khấu như một bằng chứng cho thấy ban nhạc đã không chiến thắng được căn bệnh nghiện ngập vốn đã nhiều lần gây tiếng xấu cho ban nhạc. Mọi thành viên trong ban nhạc tuyên bố từ bỏ ma tuý và rượu. Tyler phải trải qua bốn chương trình điều trị cai nghiện khác nhau; Perry thậm chí tìm cách thay hoàn toàn máu trong người với nỗ lực muốn loại bỏ hẳn cơn nghiện của mình nhưng rồi cuối cùng anh phải chịu điều trị theo phương pháp bình thường. Ban nhạc Aero Smith sau lần tái hợp đã có được một hợp đồng với hãng Geffen Records nhưng với điều kiện phải qua một kỳ thử giọng.

Qua năm sau, Aero Smith phát hành Done with Mirros, album đầu tiên của nhóm sau lần tái hợp kể từ 1979 và là album đầu tiên phát hành dưới tên của hãng Geffen Records. Mặc dầu không nổi bật như Rock In A Hard Place, album này đã cho thấy dấu hiệu trỗi dậy của Aero Smith.

Vinh quang trở lại

Sau khi phát hành Done With Mirros, Tyler và Perry cũng đã thành công trong việc cai nghiện ma tuý và rượu. Năm1986, ban nhạc rap Run D.M.C đã có nhã ý “quảng cáo không công” khi trình diễn lại ca khúc nổi tiếng của Aero Smith trong năm 1976 “ Walk This Way”. Ca khúc cover “Walk This Way” này đã được đón nhận nhiệt liệt, giành thứ hạng 4 và một thế hệ khán thính giả trẻ của MTV bất ngờ quan tâm đến ban nhạc Aero Smith. Có thể nói, “Walk This Way” đã mở ra một giai đoạn hồi phục trọn vẹn tên tuổi của ban nhạc và hé mở một con đường để Aero Smith tìm lại vị trí đã mất trong lòng người hâm mộ. Album Permannent Vacation phát hành năm 1987 của họ đã bán trên 3 triệu bản và được xếp hạng 11.

Trong album này, qua sự cộng tác với các nhạc sĩ chuyên viết nhạc hard rock  như Holly Knight và Desmond Child, các ca khúc như “Dude” (Looks Like a Lady), “Rag Doll” và “Angel” đã thực sự làm sống lại tên tuổi Aero Smith. Các nhà phê bình âm nhạc đã bắt đầu có những ý kiến tốt đẹp về họ.

Aero Smith tiếp tục mở rộng ảnh hưởng bằng những chuyến lưu diễn cùng với nhiều ban nhạc mà họ đã từng gây cảm hứng như Dokken, Guns n’ Roses và Poison. Việc được cộng tác với các nhạc sĩ trẻ hơn đã giúp Aero Smith mau chóng hồi sinh, cho phép họ tạo ra những âm thanh tuyệt vời nhất của họ. Pump, phát hành năm 1989, tiếp tục những chiến công mới, xếp hạng 5 trong bảng, bán được trên 4 triệu bản và sản sinh ra những single lọt vào top 10 như “Love in an Elevator”, “Janie’s Got a Gun”, và “What it Takes”.

Năm 1993, Aero Smith phát hành Get A Grip. Cũng giống như Permanent Vacation và Pump, Get A Grip do Bruce Fairbun sản xuất cùng với sự góp mặt của các nhạc sĩ sáng tác ca khúc bậc thầy. Album này cũng giành được thành công như hai album trước đó với những ca khúc xuất sắc: “Livin’ on the Edge”, “Cryin” và “Amazing”.

Năm 1994, Aero Smith phát hành Big ones – một tuyển tập gồm các ca khúc hay trong nhóm. Chỉ trong một thời gian ngắn sau khi phát hành, Big ones đã bán được trên 600.000 bản.

Thành công lại đến với Aero Smith trong năm 1998. Ban nhạc đã vinh dự được trao giải MTV’98 về các video clip: một là “Video clip hay nhất từ phim ảnh” cho ca khúc “I Don’t want to miss a thing” trong soundtrack Armageddon và một “Video clip nhạc rock hay nhất” cho ca khúc “Pink” trong Nine Lives. Trong MTV’97 ban nhạc đã nhận được giải “Video clip nhạc rock hay nhất” cho ca khúc “Falling in love” (Is hard on the Kness) cũng từ album Nine Lives.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *